05:47 EST Thứ tư, 13/12/2017
webstile của nguyễn Đức Tính
Thi giao thông thông minh
Phòng giáo dục đam rông
Sở Giáo dục Lâm Đồng

Liên kết website

Trang nhất » Tin tức » Đội TNTP Hồ Chí Minh

Tuyên truyền ngày 30/4/1975 và lịch sử ngày quốc tế lao động 1/5

Thứ tư - 23/04/2014 11:07
Hình ảnh minh họa

Hình ảnh minh họa

Ý nghĩa ngày của ngày 30/4/1975 và lịch sử ngày quốc tế lao động 1/5

Ý nghĩa ngày của ngày 30/4/1975 và lịch sử ngày quốc tế lao động 1/5

 
Phần 1
Kỷ niệm 39 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2014)
Ngày 30/4/1975, kết thúc thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thống nhất Tổ quốc. Đây là thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước trong thế kỷ XX, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, là trang sử hào hùng và mốc son chói lọi trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
I. Những chiến công oanh liệt của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc
Thực hiện phương hướng chiến lược trong thư chúc mừng năm mới (01/01/1969) của Hồ Chủ tịch “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” và lời kêu gọi của Người tháng 7/1969 là “Đánh cho quân Mỹ phải rút hết sạch, đánh cho ngụy quân, ngụy quyền sụp đổ hết”, nhờ chuẩn bị tốt cả thế và lực, nắm đúng thời cơ, bộ đội chủ lực của ta đã tiến hành thắng lợi cuộc tiến công chiến lược 1972; cùng lúc đó quân dân miền Bắc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2, nhất là đánh thắng cuộc tập kích chiến lược B52 của Mỹ làm thay đổi cục diện chiến tranh, giành thắng lợi quyết định, kết hợp chặt chẽ “đánh và đàm”; buộc Mỹ phải ký hiệp định Pari (ngày 27/01/1973) rút quân Mỹ và chu hầu ra khỏi miền Nam, làm cho so sánh lực lượng thay đổi có lợi cho ta, tạo điều kiện cơ bản nhất để tiến lên giành thắng lợi cuối cùng.
Tuy buộc phải ký Hiệp định Pari về Việt Nam và rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, nhưng Mỹ với bản chất ngoan cố, không chịu từ bỏ âm mưu duy trì chế độ thực dân kiểu mới, chia cắt lâu dài đất nước ta. Mỹ tiếp tục tăng cường viện trợ quân sự, chỉ huy chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ra sức củng cố ngụy quân, ngụy quyền, liên tiếp mở các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng.
Đến tháng 5/1973, xu thế chống phá hiệp định Pari của địch ngày càng tăng. Mỹ không ngại tiếp tay cho ngụy lấn chiếm và bình định, điên cuồng đánh phá hòng xóa bỏ vùng giải phóng của ta, đẩy lùi lực lượng cách mạng.
Đến cuối năm 1974 cuộc chiến tranh của quân và dân ta ở miền Nam chống lại cuộc chiến tranh “Việt Nam hóa chiến tranh”do Mỹ – ngụy tiến hành giành nhiều thắng lợi lớn. Ta ngày càng mạnh lên, ngụy càng ngày càng suy yếu rõ rệt, nước Mỹ lâm vào khủng hoảng nội bộ nghiêm trọng.
Thực hiện tư tưởng chỉ đạo “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” và quyết tâm chiến lược, quân và dân toàn miền Nam tiếp tục chiến đấu giải phóng vùng địch chiếm đóng, đặc biệt chiến thắng giải phóng toàn tỉnh Phước Long cuối năm 1974 và đầu năm 1975 cho thấy khả năng thực tế ngày càng suy của quân ngụy Sài Gòn và khả năng Mỹ khó quay lại trở lại miền Nam. Chớp thời cơ, ngày 04/03/1975 ta mở cuộc tổng tiến công chiến lược Xuân 1975 bằng 3 đòn chiến lược:
- Chiến dịch Tây Nguyên mở đầu bằng trận đột phá chiến lược đánh chiếm Buôn Mê Thuột, giải phóng Tây Nguyên
Bước vào mùa Xuân năm 1975, ta chọn Nam Tây Nguyên làm hướng đột phá chiến lược cho cuộc tổng tiến công. Chiến dịch được mở ra với ý định ban đầu là giải phóng vùng Nam Tây Nguyên, trước hết là thị xã có ý nghĩa chiến lược Buôn Mê Thuột.
Từ 9 đến 10/3, chính thức bước vào tác chiến chiến dịch, Sư đoàn 10 tiêu diệt căn cứ Đức Lập. Ngày 10/3, Sư đoàn 316, Trung đoàn 95b, Trung đoàn 198 đặc công đồng loạt mở 5 mũi tiến công vào thị xã Buôn Mê Thuột. Đây là trận đánh then chốt chủ yếu. Sau hơn một ngày chiến đấu quyết liệt, trưa 11/3, ta giải phóng thị xã.
Từ 14 đến 18/3, Sư đoàn 10, Trung đoàn 25 tiến công lực lượng địch đổ bộ trực thăng trên đường 21, Đông Bắc thị xã Buôn Mê Thuột, tiêu diệt Sư đoàn 23 và Liên đoàn biệt động quân 21, đập tan ý đồ phản kích của địch.
Bị thất bại nhanh chóng và nặng nề, trước tình huống không còn lực lượng cơ động ứng cứu, ngụy quyền Sài Gòn buộc phải ra lệnh rút bỏ Bắc Tây Nguyên để bảo toàn lực lượng còn lại của Quân đoàn 2. Khoét sâu sai lầm của địch, ta tung Sư đoàn 320 vào truy kích, tập kích tập đoàn địch rút chạy trên đường 7, từ 17 đến 23/3, tiêu diệt hầu hết lực lượng này gồm 1 trung đoàn bộ binh, 5 liên đoàn biệt động quân, 3 thiết đoàn và các đơn vị khác, giải phóng Cheo Reo, Củng Sơn.
Đồng thời, từ 18 đến 24/3, Sư đoàn 968, Trung đoàn 95a, và Trung đoàn 271 tiến vào giải phóng các thị xã Kon Tum, Plâyku, Gia Nghĩa.
Phát triển thắng lợi, từ 02/3 đến 03/4, các sư đoàn Tây Nguyên tiến xuống duyên Hải Trung Trung Bộ, tiêu diệt Lữ đoàn dù 3, Trung đoàn 40, Liên đoàn 24, cùng bộ đội bạn giải phóng Bình Khê, Phú Yên, Nha Trang, Cam Ranh, kết thúc giòn dã Chiến dịch Tây Nguyên.
- Chiến dịch giải phóng Huế – Đà Nẵng
Sau khi mất Tây Nguyên, thế phòng thủ chiến lược của địch bị rung chuyển nghiêm trọng, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch Huế - Đà Nẵng lấy tên là “Mặt trận 475”. Chiến trường được phân thành hai khu vực: Trị Thiên – Huế và Quảng Nam – Đà Nẵng, trong đó mục tiêu chủ yếu là Huế – Đà Nẵng.
Ngày 15/3, Bộ Tổng tham mưu ngụy Sài Gòn quyết định đưa Liên đoàn 14 biệt động quân từ Quảng Ngãi ra Quảng Trị thay thế Lữ đoàn 369 và đưa Lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ vào bảo vệ Quảng Nam – Đà Nẵng để rút Sư đoàn dù về bảo vệ Sài Gòn. Cuộc điều quân bố trí lại lực lượng này càng làm cho địch lâm vào thế dễ bị tan vỡ nếu bị tấn công. Ngày 18/3, Bộ Chính trị họp nhận định: Thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược của chiến dịch Tây Nguyên đánh dấu một bước rất mới trong cục diện chung, một bước suy sụp của Mỹ – Ngụy. Địch đang thực hiện co cụm chiến lược, có thể co cụm ở Đà Nẵng và Cam Ranh… Bộ Chính trị hạ quyết tâm hoàn thành giải phóng miền Nam trong năm 1975; nhiệm vụ trước mắt là nhanh chóng tiêu diệt Quân đoàn I của địch, không cho chúng rút về Sài Gòn, giải phóng Huế, Đà Nẵng và các tỉnh Trung Bộ.
Kết thúc chiến dịch, ta loại khỏi vòng chiến đấu 120.000 tên địch, làm tan rã 130.000 phòng vệ dân sự, tiêu diệt và làm tan rã 3 sư đoàn bộ binh (Quân đoàn 1), sư đoàn thủy quân lục chiến (tổng dự bị), 4 liên đoàn biệt động quân, 4 thiết đoàn, 1 sư đoàn không quân; thu 129 máy bay, 179 xe tăng, 327 khẩu pháo, hơn 1.100 xe quân sự và tàu, xuồng; giải phóng 5 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Đà, Quảng Ngãi. Thắng lợi của chiến dịch này có ý nghĩa chiến lược quan trọng làm thay đổi hẳn so sánh lực lượng về mặt chiến lược hoàn toàn có lợi cho ta; đập tan ý đồ co cụm chiến lược của địch, tạo điều kiện cho quân ta đẩy mạnh tốc độ tiến công giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam.
- Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng Sài Gòn – Gia Định và giành thắng lợi hoàn toàn, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vào trưa ngày 30/4/1975
Ta bước vào chiến dịch giải phóng Sài Gòn – Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, với tư tưởng “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Ta huy động vào chiến dịch này một lực lượng lớn hơn bất cứ chiến dịch nào trước đây, bao gồm cả lực lượng vũ trang và chính trị.
Thời cơ nối tiếp thời cơ, chiến dịch mở ra chiến dịch, hội nghị Bộ chính trị ngày 31/3/1975 xác định: “Từ giờ phút này trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân dân ta đã bắt đầu”. Các nghị sĩ Mỹ theo dõi tình hình miền Nam quả quyết, đã quá muộn để làm bất cứ việc gì nhằm lật ngược tình thế ở Việt Nam.
Ngày 08/4/1975, ta cho ném bom Dinh Độc Lập. Ngày 9/4/1975 ta tiến đánh địch ở Xuân Lộc. Ngày 16/4/1975 ta đập tan phòng tuyến phòng thủ từ xa của địch ở Phan Rang. Ngày 17/4/1975 Phnôm-pênh giải phóng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Campuchia đã kết thúc thắng lợi. Trong khi đó ở Lào chính phủ liên hiệp đóng cửa sứ quán ngụy Sài Gòn và ngụy Phnôm-pênh, sau đó vua Lào ra lệnh giải tán Quốc hội, cuộc đấu tranh của quân và dân Lào bước hẳn sang thời kỳ chính trị hiệp thương để giành thắng lợi hoàn toàn. Ngày 18/4/1975 tổng thống Mỹ. G.Ford ra lệnh di tản người Mỹ khỏi Việt Nam. Ngày 20/4/1975 Mỹ buộc Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Ngày 23/4/1975 Mỹ tuyên bố chiến tranh kết thúc, không thể giúp chính phủ Nam Việt Nam.
17 giờ ngày 26/4/1975 cuộc tổng kích đáng chiếm Sài Gòn bắt đầu, các mục tiêu tấn công ngập chìm trong bão lửa. Lữ đoàn 203 tiến vào Dinh Độc Lập theo đường Hồng Thập Tự và Đại lộ Thống Nhất do xe tăng 483 của trung úy Bùi Quang Thận dẫn đầu. Một số chiến sĩ biệt động đã có mặt trước dinh Độc Lập. Trong Dinh cũng đã có mặt một số cán bộ tình báo đường dài của ta: Tô Văn Cang, Vũ Ngọc Nhạm một cơ sở binh vận (chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh). Chiếc xe tăng 843 húc cánh cổng sắt Dinh Độc Lập, tiến thẳng vào cửa Dinh. Ngay tức khắc chiến sĩ lái xe Jeep Bùi Ngọc Vân cầm cờ chạy lên tầng 2 phất mạnh trước dân chúng đang reo vui ở cổng Dinh Độc lập. Trong lúc đó, Bùi Quang Thận nhảy ra khỏi xe, cùng một số chiến sĩ tiến thẳng lên ban công thượng của tòa nhà, giật bỏ lá cờ vàng 3 sọc và kéo cờ giải phóng lên cột cờ cao nhất của Dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975. Đại đội trưởng Phạm Duy Đô chạy thẳng vào trong Dinh quan sát và trở ra báo cáo ngay với trung tá chính ủy lữ đoàn 203 Bùi Văn Tùng xác nhận sự có mặt của tổng thống và nội các ngụy quyền tại Dinh. Trung tá lữ trưởng Nguyễn Tấn Tài lệnh điều chỉnh đội hình xe tăng bao vây Dinh đề phòng địch phản kích, đồng thời phái một bộ phận ra đánh chiếm cảng Sài Gòn.
Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, riêng quân dân Sài Gòn – Gia Định đã diệt và làm tan rã 31.000 tên địch, bắt sống 12.619 tù binh, chiếm 9 căn cứ quân sự, 5 chi khu, 21 phân chi khu và trụ sở tề... thu 12.275 súng và gần như toàn bộ hồ sơ các cơ quan từ Phủ tổng thống trở xuống. Số ngụy quân lần lượt ra trình diện là 40 vạn và số công an cảnh sát là 10 vạn.
17 giờ ngày 30/4, tiếng súng đã thực sự chấm dứt ở “thủ đô” ngụy quyền, trừ một số mục tiêu quân sự. Thành phố hơn 3 triệu dân vừa qua cuộc chiến tranh 30 năm, vẫn nguyên vẹn đã chuyển sang trạng thái bình yên đến độ gây ngạc nhiên cho mọi người trên thế giới đang có mặt: nước vẫn chảy đều trong các đường ống; dòng điện chỉ tạm ngừng trong 2 giờ rồi mọi nhà lại sáng; công nhân nhà máy vẫn sẵn sàng cho máy chạy; chợ búa, quán xá vẫn sẵn sàng mở; đường phố vẫn đông người, xe cộ... Người dân Sài Gòn - Gia Định náo nức cắt dàn cờ hoa để xuống đường ngày 01/5 mừng cuộc toàn thắng và chờ đêm hội pháo hoa.
* Tại Bến Tre
Ngày 01/5/1975, Bộ đội ta tiến quân vào giải phóng thị xã Bến Tre
Kế hoạch và phương án tấn công dứt điểm thị xã (nay là thành phố Bến Tre) được Tỉnh uỷ thông qua và ông Nguyễn Văn Trung, đại diện Khu ủy phụ trách Bến Tre quyết định tấn công vào đêm 29 rạng 30/4/1975.
Tỉnh đội trưởng Vũ Khắc Sương (Năm Sương) chỉ đạo từng mũi tiến công đánh lấn chiếm địch. Nhưng trong một tình huống bất trắc, Tiểu đoàn 6 trên đường từ Tam Phước – Châu Thành về Trung tâm Chỉ huy quân sự (Long Mỹ – Giồng Trôm) thì bị địch phục kích, lấy được kế hoạch tấn công thị xã.
Đối phó với ta, Tỉnh trưởng Kim ra lệnh tập trung 7 tiểu đoàn bảo an về thị xã bố trí xung quanh tuyến vành đai càn quét đánh phá và đóng quân phòng thủ. Chúng chốt tất cả các tuyến đường vào Thị xã, từ cầu Bình Nguyên đến Tú Điền, kéo tới lò gạch Bông Chanh (chợ Giữa – Phú Hưng).
Trong tình huống mới, Ban Chỉ huy quyết định thay đổi ngay chiến thuật: kéo từng tiểu đoàn ra, đánh cho chúng tê liệt rồi sau đó một mặt cầm chân chúng, mặt khác tấn công vào thị xã.
Theo kế hoạch này, ta điều 2 tiểu đoàn và 1 đại đội đặc công về Giồng Trôm, đánh vào phân chi khu Lương Quới nhằm diệt địch tại chỗ, kéo lực lượng cơ động của địch đến và kềm chân nhiều đơn vị tại đây.
Đúng như dự kiến, sáng 30/4/1975, Tỉnh trưởng Kim điều 4 tiểu đoàn bảo an đang phòng thủ thị xã xuống cứu viện cho Lương Quới, nhưng đến cầu Chẹt Sậy thì bị ta đánh sập cầu. Địch đổ dồn trên đường 26, khu vực chợ Giữa.
Giữa lúc chiến sự ở Lương Quới và trên đường 26 đang tiếp diễn, thì 9h30 phút ngày 30/4/1975, Tổng thống chế độ Sài Gòn Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Sau khi giải phóng các xã, ông Năm Sương, Ba Trung, Tư Nguyễn, Tư Cường và Mười Vệ Quốc gặp nhau tại đồn Lương Quới, ra quyết định tấn công Thị xã ngay trong đêm 30/4.
Lực lượng ta theo 3 cánh quân. Cánh 1 gồm phân đội 1 đặc công và phân đội 4 biệt động có nhiệm vụ tiến vào thị xã theo hướng Nam (tả ngạn sông Bến Tre). Cánh 2 gồm phân đội 2 Thị đội, có nhiệm vụ tiến vào thị xã từ hướng Tây Bắc. Cánh 3 gồm phân đội 3 đặc công, phân đội 5 biệt động, phân đội 6 đặc công chốt và phân đội đặc công thủy cùng với lực lượng tự vệ vũ trang của các ngành, đoàn thể tiến vào nội ô từ hướng Đông Bắc. Ngoài ra, mỗi cánh quân còn có lực lượng dân công, lực lượng chính trị, thanh niên… của các xã trên địa bàn cùng phối hợp tham gia.
Đêm đó, khoảng 10 giờ, tên Đại úy Chương, Chỉ huy pháo binh tại sân bay thị xã, tập trung pháo bắn xuống khu vực Đồng Gò dữ dội. Cánh quân phía lộ 6 do ông Tư Định (Phan Văn Thậm – Tham mưu trưởng Tỉnh đội) và ông Ba Thanh (Lê Văn Thanh – Phó Chính trị viên Tỉnh đội) chỉ huy, ra lệnh cho trung đội đặc công đem B40 xuống sân bay phản công.
Ngay sau đó, tên Chương lên máy thương lượng rằng không bắn nữa, để sáng hẳn tính. Đến gần 12 giờ, Chương lại lên máy và nói: “Chủ bài tôi bệnh nặng rồi. Để sáng tôi quan hệ mới mấy anh”. Thực chất là lúc đó tên Tỉnh trưởng Kim đã bỏ chạy.
Đến 8 giờ sáng ngày 01/5/1975, thị xã Bến Tre hoàn toàn giải phóng. Quân ta tiếp quản xong các mục tiêu đã được phân công, chiếm giữ các trụ sở của ngụy.
Khoảng 4 giờ sáng ngày 01/5/1975, với sự yểm trợ của một số phụ nữ là cơ sở cách mạng tại nội ô thị xã, bà Nguyễn Thị Diệp đã treo lá cờ giải phóng đầu tiên tại ngã ba Tháp (nay là công viên tượng đài Đồng Khởi).
Đến 6 giờ ngày 01/5/1975, các đường phố chính ở nội ô thị xã đã được nhân dân treo cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (nửa đỏ, nửa xanh, sao vàng 5 cánh) trước nhà. Nhân dân thị xã đứng hai bên đường cầm cờ, hoa đón chào quân giải phóng vào tiếp quản.
II. Ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và những bài học kinh nghiệm
1. Ý nghĩa thắng lợi
a. Đối với nhân dân ta
- Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đánh dấu bước ngoặt rất cơ bản của cách mạng Việt Nam; mở ra một kỷ nguyên mới là: độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, đẩy lùi nghèo nàn lạc hậu, tạo lập một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
- Qua cuộc chiến đấu và chiến thắng, Đảng ta, nhân dân ta, quân đội ta, cả dân tộc ta và mỗi người Việt Nam được rèn luyện cả về phẩm chất và tài năng càng nhận thức sâu hơn, đúng đắn hơn vị trí, khả năng và sức mạnh của mình trong thời đại mới.
- Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã nâng vị thế chính trị của Việt Nam trên thế giới lên một tầm cao mới và là niềm tự hào của mỗi người dân trong thế kỷ XX và mai sau.
b. Đối với thế giới
- Là một thắng lợi tiêu biểu của lực lượng cách mạng thế giới, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì độc lập, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội.
- Đã đập tan cuộc phản công lớn nhất kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 của chủ nghĩa đế quốc vào ba trào lưu cách mạng của thời đại, mà mũi nhọn là phong trào giải phóng dân tộc, mở đầu sự phá sản của chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên toàn thế giới.
- Làm sáng tỏ tính hiện thực, tính phổ biến của xu thế phát triển của loài người tiến bộ.
- Là biểu tượng mới về sức mạnh của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, làm tiêu tan huyền thoại về sức mạnh vô địch của đế quốc Mỹ.
2. Nguyên nhân thắng lợi
- Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, là nhân tố quyết định hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
- Nhân dân và các lực lượng vũ trang đã phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc, một lòng đi theo Đảng, đi theo Bác Hồ, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, bền bỉ, lao động quên mình vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và vì quyền sống của con người.
- Cả nước có sự đoàn kết thống nhất cao: thống nhất ý trí, thống nhất hành động; đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết Bắc – Nam, đoàn kết quân dân trên dưới một lòng, triệu người như một, quyết tâm đánh giặc Mỹ xâm lược.
- Tăng cường đoàn kết quốc tế, phát huy sức mạnh của thời đại.
- Đoàn kết liên minh với nhân dân Lào, nhân dân Campuchia, phát huy truyền thống láng giềng anh em gắn bó với nhau, tạo nên sức mạnh để đánh thắng kẻ thù.
3. Những bài học kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
- Kiên định quyết tâm, quyết đánh, quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược.
- Đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ.
- Nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân sáng tạo và tổ chức lực lượng cả nước đánh giặc.
- Xây dựng căn cứ địa cách mạng, hậu phương kháng chiến vững chắc, phát huy vai trò của hậu phương lớn và hậu phương tại chỗ.
- Phát huy sức mạnh đoàn kết chiến đấu của ba dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia để cùng nhau đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược.
- Đoàn kết quốc tế, phát huy sức mạnh của thời đại gắn với sức mạnh của dân tộc; Bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người.
Phần 2
Kỷ niệm 128 năm ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 – 01/5/2014)
1. Nội dung và ý nghĩa lịch sử ngày Quốc tế Lao động 01/5
Trong khoảng thời gian 30 năm cuối thế kỷ XIX, lịch sử sản xuất của xã hội có bước chuyển biến quan trọng, sản xuất công nghiệp tăng nhanh. Đồng thời với những bước tiến rất lớn của nền kinh tế tư bản trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, giai cấp tư sản tăng cường bóc lột và bần cùng hóa nhân dân, trong xã hội đối kháng giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc, dẫn đến nhiều cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản và nhân dân lao động.
Trong bối cảnh đó Mỹ từ một quốc gia có nền kinh tế phụ thuộc châu Âu, đã mở rộng sản xuất, trở thành một quốc gia công nghiệp hàng đầu thế giới, thành phố Xi-ca-gô đã trở thành trung tâm thương nghiệp của Mỹ và Mỹ lao vào cuộc chạy đua cạnh tranh tư bản. Các guồng máy chạy hết công suất suốt ngày đêm, hàng vạn công nhân bị bắt buộc làm việc mỗi ngày từ 14 – 18 giờ, phụ nữ quần quật lao động không kém gì nam giới, nhưng đồng lương chỉ bằng ½ nam giới và suốt suốt tuần không có ngày nghỉ; trẻ em phải làm việc 12 giờ/ngày. Không chịu đựng mãi với chế độ bóc lột tàn khốc của giai cấp tư sản, phong trào bãi công của công nhân châu Âu, Bắc Mỹ bùng lên, với đòi hỏi bứt thiết là tăng lương, giảm giờ làm. Khẩu hiệu chung là “ 8 giờ làm việc, 9 giờ học tập, 8 giờ nghỉ ngơi trong một ngày”.
Tại thành phố Xi-ca-gô, ngày 01/5/1886, hưởng ứng lời kêu gọi của “Liên đoàn lao động Mỹ”, công nhân toàn thành phố tiến hành bãi công, tổ chức míttinh và biểu tình trên đường phố (40 ngày không đến nhà máy làm việc). Khẩu hiệu “ngày làm việc 8 giờ” trở thành tiếng nói chung của giai cấp công nhân, chính quyền tư sản rơi vào thế bị động. Ngày 03/5, hơn 6 ngàn công nhân tổ chức míttinh; tên chủ tư bản ngoan cố không trả lời yêu sách của công nhân, cho đóng cửa nhà máy và những người bãi công phản đối, bị cảnh sát đàn áp, 9 công nhân bị giết, 50 bị thương nặng, gây chấn động thành phố. Ngày 04/5, một cuộc mít tinh khổng lồ diễn ra ở quãng trường Hay-mác-két để phản kháng hành động của cảnh sát. Bọn chủ dùng thủ đoạn xảo trá cho tay chân ném một quả bom làm chết 7 cảnh sát, 4 công nhân và nhiều người bị thương. Lấy cớ đó chính quyền mở cuộc khủng bố lớn, hơn 200 người chết và bị thương, nhà tù chật ních những người tham gia đấu tranh.
Hơn một năm sau ngày đấu tranh 01/5, sáng 11/11/1887, các thủ lĩnh của cuộc đấu tranh bị chính quyền treo cổ. Tuy phong trào bị trấn áp, nhưng chính phủ buộc phải ban hành đạo luật ngày làm 8 giờ.
Vụ tàn sát đẫm máu sau ngày 01/5/1886, gây nên chấn động lớn trong giai cấp công nhân thế giới. Ở Mỹ nhiều cuộc biểu tình lớn nổ ra tại các thành phố lên tiếng ủng hộ yêu sách của công nhân Xi-ca-gô. Công nhân Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Hà Lan,… tổ chức nhiều cuộc míttinh bày tỏ sự đồng tình với công nhân Mỹ.
Ngay trong Đại hội thành lập Quốc tế thứ II được triệu tập ngày 14/7/1889, các đại biểu của giai cấp công nhân đã thông qua Nghị quyết lấy ngày 01/5 làm ngày đoàn kết đấu tranh của những người cộng sản trên toàn thế giới. Từ đó ngày 01/5 trở thành Ngày Quốc tế Lao động.
Thực hiện Nghị quyết của Quốc tế thứ II, vào ngày 01/5/1890 lần đầu tiên được kỷ niệm trên qui mô thế giới. Giai cấp công nhân ở các nước Mỹ, Canada, Pháp, Đức, Áo, Đan Mạch, Bỉ, Thụy Điển, Hà lan, Ý và nhiều nước khác tiến hành bãi công, míttinh, biểu tình. Hàng ngàn công nhân Pra-ha xuống đường biểu tình mang theo biểu ngữ “ngày làm 8 giờ”“vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”.
2. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam với ngày Quốc tế Lao động 01/5
Từ những năm đầu của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam qua những tác phẩm của mình, đã giúp một bộ phận vô sản và lao động Việt Nam nhìn rộng ra phong trào cách mạng thế giới, biết đến Cách mạng Tháng Mười Nga, biết đến ngày 01/5… và biểu lộ sự đoàn kết với vô sản, cần lao quốc tế.
Ngày 01/5/1925, công nhân Chợ Lớn, công nhân đường sắt Dĩ An và công nhân Đà Nẵng biểu tình bày tỏ ý chí bảo vệ Liên bang Xô Viết. Trong cuộc biểu tình đó, nhiều công nhân đã bị bắt và tù đày. Có thể nói đây là sự kiện đầu tiên đánh dấu sự giao tiếp trong chừng mực giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, một điểm nút chuyển phòng trào công nhân Việt Nam từng bước tự phát đến tự giác
Sau khi Đảng Công sản Việt Nam được thành lập, ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam, là giai cấp lãnh đạo cách mạng, đóng vai trò nòng cốt trong khối liên minh công – nông. Ngày 01/5/1930, ở các thành phố lớn cũng như các vùng nông thôn rộng lớn của cả nước đã diễn ra các cuộc míttinh, tuần hành của tầng lớp nhân dân lao động chào mừng Ngày Quốc tế Lao động 01/5. Đây là lần đầu tiên, giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên phạm vi toàn quốc, chứng minh được sứ mệnh trước lịch sử, sức mạnh vô địch, nghị lực phi thường của mình.
Từ ngày 01/5/1925 cho đến ngày 01/5/1975, lực lượng công nhân và nhân dân lao động của nước ta trải qua tròn nữa thế kỷ đấu tranh kiên cường, bất khuất dưới sự lãnh đạo của Đảng, góp phần đánh bại hai đế quốc xâm lược, giành độc lập tự do, thống nhất đất nước.
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là qua hơn 20 năm đổi mới cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giai cấp công nhân Việt Nam đã có những chuyển biến quan trọng, tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên, đã hình thành ngày càng đông bộ phận công nhân trí thức; đang tiếp tục phát huy vai trò của mình và có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Đảng ta tiếp tục xác định “Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn: là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng”, đồng thời đề ra mục tiêu xây dựng giai cấp công nhân đến năm 2020 là:
Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, có giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng; có ý thức công dân, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tiêu biểu cho tinh hoa văn hóa của dân tộc; nhạy bén và vững vàng trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và những biến đổi của tình hình trong nước; có tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết hợp tác quốc tế; thực hiện sứ mệnh lịch sử của gia cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Nói chung trong các doanh nghiệp đều có tổ chức cơ sở Đảng, công đoàn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh Niên Việt Nam.
Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, phát triển nhanh về số lượng, nâng cao chất lượng, có cơ cấu đáp ứng  yêu cầu phát triển đất nước ; ngày càng được trí thức hóa: có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học – công nghệ tiên tiến, hiện đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức; thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; có giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong công nghiệp và kỷ luật cao”./.

Tác giả bài viết: Hồ Đình Ngũ

Nguồn tin: Sưu tầm

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Theo dòng sự kiện

Xem tiếp...

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thành viên

Thư viện ảnh

Đông Vui Cô Ơi Tập thể thầy cô giáo trường THCS Liêng Trang Ngày vui khai trường Học sinh trong ngày hội khánh thành trường Tặng quà cho học sinh nhân ngày khai trường

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 9


Hôm nayHôm nay : 429

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 14357

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1593590

webstile của nguyễn Đức Tính
Thi giao thông thông minh
Phòng giáo dục đam rông
Sở Giáo dục Lâm Đồng

Lịch