05:19 EDT Thứ sáu, 20/10/2017
webstile của nguyễn Đức Tính
Thi giao thông thông minh
Phòng giáo dục đam rông
Sở Giáo dục Lâm Đồng

Liên kết website

Trang nhất » Tin tức » Đội TNTP Hồ Chí Minh

Mục tiêu cụ thể đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nghề nghiệp? Những nội dung nào là trọng tâm đổi mới so với trước đây

Thứ năm - 27/03/2014 03:44
Hình minh họa

Hình minh họa

21. Mục tiêu cụ thể đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nghề nghiệp? Những nội dung nào là trọng tâm đổi mới so với trước đây?

Mục tiêu cụ thể là:  Tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kĩ năng và trách nhiệm nghề nghiệp.  Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kĩ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kĩ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế. Những nội dung trọng tâm đổi mới mục tiêu giáo dục nghề nghiệp:  Tích hợp kiến thức, kĩ năng và trách nhiệm nghề nghiệp để hình thành năng lực, phẩm chất cho người học.  Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo.  Giáo dục nghề nghiệp phát triển theo hướng ứng dụng, thực hành bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kĩ thuật, công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế.

22. Mục tiêu cụ thể đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học?

Những nội dung nào là mới so với mục tiêu lâu nay đã xác định? Mục tiêu cụ thể là:  Tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất, năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học.  Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nguồn nhân lực quốc gia; trong đó có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế. Đa dạng hoá các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển công nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế. Nội dung mới so với trước đây:  Giáo dục đại học không chỉ tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài mà phải đặc biệt coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học.  Mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phải phù hợp với quy hoạch phát triển nguồn nhân lực quốc gia; trong đó có một số trường ngang tầm khu vực và quốc tế.  Thực hiện phân tầng cơ sở giáo dục đại học nhằm phục vụ công tác quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội; thực hiện xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học để đánh giá uy tín và chất lượng đào tạo phục vụ quản lí nhà nước và ưu tiên đầu tư về ngân sách.  Phát triển giáo dục đại học phải gắn với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp với quy luật khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo, trong đó có giáo dục đại học từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng.

23. Mục tiêu cụ thể đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục thường xuyên? Những nội dung nào là mới so với mục tiêu lâu nay đã xác định?

Mục tiêu cụ thể là:  Bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng diện chính sách được học tập nâng cao kiến thức, trình độ, kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống; tạo điều kiện thuận lợi để chuyển đổi nghề nghiệp đối với người lao động; bảo đảm xoá mù chữ bền vững.  Hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên và các hình thức học tập, thực hành phong phú, linh hoạt, coi trọng tự học và giáo dục từ xa. Những nội dung mới so với mục tiêu lâu nay đã xác định: Nhấn mạnh phát triển giáo dục thường xuyên gắn kết chặt chẽ và liên thông với giáo dục chính quy để phát triển tài nguyên con người; giáo dục thường xuyên tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động được bổ sung kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp để có thể chuyển đổi nghề nghiệp, thích ứng với sự phát triển kinh tế  xã hội; mở rộng các hình thức học tập phong phú, linh hoạt và đặc biệt coi trọng tự học, coi việc thường xuyên học tập, học suốt đời của mỗi cá nhân là yếu tố quyết định xây dựng thành công một xã hội học tập.

24. Giải pháp khắc phục tình trạng quá tải của chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông hiện nay?

 Hiện tượng "quá tải" trong nhà trường phổ thông là một thực tế gây bức xúc xã hội. Hiện tượng ấy do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về chương trình và sách giáo khoa. Để khắc phục tình trạng này, phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp. Riêng về chương trình và sách giáo khoa hiện hành, thời gian qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những giải pháp nhằm khắc phục hạn chế như: Rà soát lại chương trình và sách giáo khoa, qua đó bỏ bớt những nội dung quá khó hoặc chưa cần thiết với học sinh phổ thông; loại bỏ các thông tin đã lạc hậu; trao quyền tự chủ cho giáo viên trong việc sắp xếp lại nội dung, cấu trúc bài giảng sao phù hợp với đối tượng người học của từng vùng miền; đổi mới việc ra đề thi theo hướng mở, tăng cường yêu cầu vận dụng kiến thức, giảm các yêu cầu ghi nhớ máy móc các số liệu, thuộc lòng các nội dung học tập. Cách làm trên chỉ là giải pháp trước mắt, phục vụ trực tiếp cho yêu cầu nhằm giảm tải, giảm bớt áp lực và gánh nặng học hành cho học sinh. Sự quá tải của chương trình và sách giáo khoa chỉ có thể khắc phục căn bản khi xây dựng lại chương trình và sách giáo khoa mới sau 2015. 25. Nội dung và phương pháp giáo dục phổ thông được đổi mới theo hướng nào? Quan điểm chỉ đạo đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông là chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lí luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Định hướng khái quát này được thể hiện cụ thể ở một số điểm sau đây:  Chương trình giáo dục phổ thông sẽ được xây dựng thành một chỉnh thể xuyên suốt từ lớp 1 lớp 12; tích hợp cao ở các lớp/cấp học dưới; phân hoá mạnh ở các lớp/cấp học cao hơn, nhất là ở trung học phổ thông. Số môn học bắt buộc sẽ giảm nhiều; học sinh được tự chọn các môn học/các chuyên đề phù hợp với năng lực và sở thích, gắn với định hướng nghề nghiệp sau này.  Nội dung các môn học sẽ "tinh giản, cơ bản, hiện đại, giảm tính hàn lâm, tăng tính thực hành và vận dụng kiến thức và kĩ năng vào thực tiễn". Định hướng trên cũng hạn chế được tính hàn lâm, xa rời cuộc sống.  Phương pháp dạy và học sẽ khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, tập trung dạy cách học, cách nghĩ và tự học, theo phương châm "giảng ít, học nhiều". Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học; đa dạng hoá các hình thức tổ chức giáo dục…

26. Dạy học tích hợp và dạy học phân hóa là gì?

Dạy học tích hợp là dạy học, trong đó giáo viên tổ chức, hướng dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ học tập; qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và thực tiễn cuộc sống. Dạy học tích hợp sẽ giúp cho việc giảm số môn học và lồng ghép được các vấn đề thời sự của cuộc sống vào các môn học và hoạt động giáo dục. Dạy học phân hoá là dạy học theo từng loại đối tượng, phù hợp với tâm  sinh lí, khả năng, nhu cầu và hứng thú của người học nhằm phát triển tối đa tiềm năng riêng vốn có của mỗi người học; người học được chủ động lựa chọn các môn học hoặc chủ đề phù hợp với năng lực và sở thích của mình.

27. Những đổi mới về kiểm tra, thi và đánh giá chất lượng giáo dục. Vì sao đổi mới kiểm tra, thi, đánh giá chất lượng giáo dục được coi là giải pháp đột phá đổi mới giáo dục?

Việc thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục sẽ được đổi mới theo hướng:  Đổi mới cả nội dung, phương pháp đánh giá (kiểm tra, thi hết môn, thi lên lớp, thi tốt nghiệp). Chuyển từ đánh giá kiến thức mà người học nắm được sang đánh giá việc hình thành năng lực, phẩm chất của người học.  Kết hợp chặt chẽ kết quả đánh giá định kì của người dạy với kết quả thi, đánh giá của người dạy và tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường và đánh giá của xã hội.  Tách bạch đánh giá kết quả học tập của từng học sinh với đánh giá chất lượng giáo dục của nhà trường, địa phương và cả nước.  Giao quyền tự chủ cho các trường đại học, cao đẳng trong tuyển sinh theo hướng: Các trường lập phương án tuyển sinh của mình theo hướng dẫn, quy định, trình Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, để các trường tăng thêm quyền chủ động và đảm bảo công tác tuyển sinh được thực hiện nghiêm túc. Đổi mới kiểm tra, thi, đánh giá được coi là giải pháp đột phá nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam là vì:  Trong bối cảnh của Việt Nam, khi giáo dục nặng về ứng thí và tâm lí sính bằng cấp khá phổ biến trong xã hội thì công tác kiểm tra, thi, đánh giá có tác động hết sức mạnh mẽ đến việc dạy và học. "Thi gì học nấy" nên đổi mới kiểm tra, thi, đánh giá sẽ có tác động trở lại đến toàn bộ các yếu tố của quá trình dạy và học trong các nhà trường. Đổi mới kiểm tra, thi, đánh giá không đòi hỏi tốn kém nhiều kinh phí.  Hiện trạng công tác kiểm tra, thi, đánh giá của cả hệ thống nước ta còn có nhiều hạn chế, lạc hậu từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện đến quy trình, cách thức xử lí, sử dụng kết quả; coi việc đánh giá kết quả học tập chỉ là việc cho điểm các bài thi, bài kiểm tra…; cách tổ chức còn nặng nề, tốn kém… Do đó, để đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, nhất thiết phải thực hiện ngay việc đổi mới kiểm tra, đánh giá và thi cử.

28. Mối quan hệ giữa đổi mới giáo dục phổ thông và đổi mới ở các trường sư phạm lần này được thể hiện như thế nào?

 Đổi mới sư phạm lấy đổi mới giáo dục phổ thông làm mục đích, mục tiêu. Đổi mới ở trường sư phạm gắn bó chặt chẽ, hài hoà và đi trước một bước đổi mới giáo dục phổ thông. Đổi mới sư phạm là điều kiện thành công cho đổi mới phổ thông. Ngược lại, đổi mới phổ thông cũng đặt ra yêu cầu, "bài toán" cho đổi mới sư phạm. Mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo trong trường sư phạm sẽ phải thay đổi để việc đào tạo, đào tạo lại đội ngũ nhà giáo thực hiện được tốt chương trình giáo dục phổ thông mới.  Giáo dục phổ thông và đào tạo sư phạm đều đã bắt đầu đổi mới. Ví dụ, việc đổi mới quá trình đào tạo sư phạm theo định hướng phát triển năng lực của giáo sinh, nhất là năng lực giáo dục và nghiệp vụ sư phạm thì không phải chờ đến khi ban hành chương trình giáo dục phổ thông mới; hơn nữa, dù chưa có chương trình mới thì phổ thông đã đang đổi mới từng phần, đang đặt ra những yêu cầu cấp bách đổi mới sư phạm. Như vậy, sư phạm và phổ thông phải cùng đổi mới, cùng tạo ra và nhân lên sức mạnh tổng hợp.

29. Lộ trình đổi mới giáo dục phổ thông sẽ được thực hiện như thế nào? Chỉ còn 2 năm nữa là tới mốc 2015, liệu thời gian này có đủ để các ban, ngành thực hiện đề án kịp tiến độ?

Sau khi Trung ương ban hành Nghị quyết, tất cả các bộ, ngành, địa phương đều phải xây dựng Chương trình hành động để thực hiện. Mốc thời gian sau 2015 là mốc yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Đúng là thời gian còn không nhiều, nhưng từ sau Đại hội Đảng lần thứ XI, ngành Giáo dục đã tổ chức triển khai nghiên cứu nhiều vấn đề xung quanh đổi mới chương trình giáo dục phổ thông từ kinh nghiệm của Việt Nam đến xu thế quốc tế; không những thế còn tiến hành thực hiện vận dụng những tư tưởng, định hướng đổi mới vào thực tiễn dạy học, áp dụng một số mô hình và phương pháp dạy học được coi là tiên tiến, đúng hướng, có hiệu quả vào nhà trường như: Dạy tiếng Việt lớp 1 theo Công nghệ giáo dục. Vận dụng mô hình trường học mới ở tiểu học và đang chuẩn bị mở rộng lên trung học cơ sở. Áp dụng phương pháp dạy học dựa trên sự tìm tòi, trải nghiệm khoa học của học sinh (phương pháp "Bàn tay nặn bột"). Triển khai hướng dẫn và tổ chức thi sáng tạo khoa học kĩ thuật của học sinh phổ thông... Bộ Giáo dục và Đào tạo đang khẩn trương hoàn thành Đề án đổi mới chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 để trình Chính phủ phê duyệt. Trên cơ sở những việc đã và đang triển khai, sẽ triển khai mạnh mẽ, đồng bộ các mặt công tác và các điều kiện đảm bảo để thực hiện Đề án.

30. Vì sao nội dung giáo dục nghề nghiệp phải đổi mới theo hướng tích hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ, hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học?

Sắp tới, sự đổi mới này sẽ được triển khai? Hoạt động nghề nghiệp yêu cầu năng lực thực hiện của người lao động. Năng lực được hình thành chỉ thông qua tích hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ, đạo đức nghề nghiệp. Nếu chỉ có kiến thức và kĩ năng mà không có thái độ, đạo đức nghề nghiệp đúng đắn thì người lao động sẽ không thể sử dụng kiến thức, kĩ năng một cách hiệu quả trong công việc, khó có cơ hội tìm việc làm. Chúng ta chưa làm tốt việc tích hợp 3 thành tố trên trong quá trình thiết kế, thực hiện chương trình đào tạo. Các môn học hoặc học phần được thiết kế và thực hiện rời rạc, thiếu tích hợp nên người học khi ra trường thường rất lúng túng khi xử lí các vấn đề trong thực tế hành nghề. Những công việc sắp tới cần làm là phải xây dựng tiêu chuẩn kĩ năng nghề nghiệp quốc gia, khung trình độ, chuẩn chương trình đào tạo dựa vào tiêu chuẩn kĩ năng nghề nghiệp, các tiêu chuẩn đánh giá; biên soạn và hiện đại hoá giáo trình, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lí theo yêu cầu tiếp cận năng lực; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục nghề nghiệp bằng nhiều nguồn khác nhau; phải có sự hợp tác chặt chẽ, thường xuyên giữa nhà trường và doanh nghiệp để huy động nguồn lực và cho phép người học sớm làm quen với thực tế việc làm theo ngành nghề đào tạo… Thực hiện đổi mới quản lí giáo dục nghề nghiệp, trong đó chú trọng xây dựng quy hoạch cơ sở giáo dục nghề nghiệp để đảm bảo đầu tư hiệu quả; hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật như Luật giáo dục nghề nghiệp, Quy chế đào tạo theo tín chỉ; quy định đảm bảo chất lượng; quy định về tiêu chuẩn định mức, thành lập Hội đồng tư vấn về giáo dục nghề nghiệp…

31. Vì sao cần phân định và phân định như thế nào công tác quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo với công tác quản trị của các cơ sở giáo dục, đào tạo?

 Công tác quản lí nhả nước về giáo dục là nhiệm vụ của cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục. Công tác quản trị (điều hành) các hoạt động giáo dục, đào tạo là trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, đào tạo. Đây là hai lĩnh vực khác nhau nên cần phải được phân định rõ:  Thực hiện chương trình cải cách hành chính của Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về phân cấp quản lí, trong đó có phân cấp quản lí nhà nước về giáo dục. Theo đó, phải tăng cường phân cấp nhưng bảo đảm việc quản lí thống nhất, thông suốt từ Trung ương tới địa phương; một cơ quan có thể làm nhiều việc nhưng một việc chỉ một cơ quan làm và chịu trách nhiệm chính. Cơ quan quản lí giáo dục các cấp không làm thay những việc mà cơ sở giáo dục hoặc xã hội có thể làm được và làm tốt để hướng tới một xã hội dân sự.  Cơ quan quản lí giáo dục từ Trung ương tới địa phương phải tập trung nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng chính sách phát triển giáo dục để ban hành theo thẩm quyền, hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành. Tập trung công tác chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện các chính sách pháp luật về giáo dục. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, khen thưởng và xử lí vi phạm các cơ sở giáo dục trong việc tuân thủ pháp luật về giáo dục.  Các cơ sở giáo dục, đào tạo được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đồng bộ cả về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhân lực, tài chính, tài sản để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Đổi mới quản trị của cơ sở giáo dục, đào tạo theo hướng phát huy dân chủ, tính sáng tạo. Trong hội đồng trường bảo đảm vai trò của Đảng uỷ và cơ quan chủ quản. Thực hiện cơ chế tự chủ, chịu trách nhiệm giải trình, công khai, chịu sự giám sát của các chủ thể nhà trường, của Nhà nước và của xã hội, chịu trách nhiệm báo cáo, giải trình trước các hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lí các cấp.

 32. Ý nghĩa của việc các cơ quan quản lí giáo dục ở địa phương được tham gia quyết định các vấn đề về nhân sự, tài chính cùng với quản lí thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp?

Cơ quan quản lí giáo dục ở địa phương là Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo. Sở Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lí nhà nước về giáo dục trên địa bàn, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về chất lượng giáo dục trên địa bàn. Ở cấp huyện, Phòng Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Sở Giáo dục và Đào tạo, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp về chất lượng giáo dục trên địa bàn huyện. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2010/NĐCP quy định các cơ quan này có trách nhiệm bảo đảm chất lượng giáo dục thì phải được tham gia quyết định, quản lí các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục về nhân sự và tài chính. Tuy nhiên, thời gian qua, việc triển khai của các địa phương còn nhiều mức độ khác nhau, cần phải tiếp tục quán triệt, thực hiện và rút kinh nghiệm để thực hiện đúng, đầy đủ và tốt hơn. Do vậy, Nghị quyết Trung ương xác định vấn đề này là hết sức cần thiết để tạo sự đồng thuận trong toàn Đảng và chính quyền các cấp, thể hiện đổi mới tư duy và phân cấp, tăng tính chủ động, tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong quản lí nhà nước về giáo dục.

33. Công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra đã được đề cập như thế nào trong Nghị quyết?

Nghị quyết đã xác định một trong những nguyên nhân của các yếu kém về giáo dục trong thời gian qua là do "công tác quản lí chất lượng, thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa được coi trọng đúng mức". Trong điều kiện đẩy mạnh phân cấp quản lí, giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục, đào tạo thì công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra phải được tăng cường. Nghị quyết khẳng định: Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; phát huy vai trò hội đồng trường; thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lí các cấp; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch các hoạt động của cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật.

34. Thực hiện Nghị quyết, công tác kiểm định chất lượng sẽ được triển khai như thế nào trong thời gian tới?

Kiểm định chất lượng giáo dục là hoạt động tự đánh giá của cơ sở giáo dục, đào tạo và đánh giá ngoài của các cơ quan có chức năng đánh giá độc lập (thường được gọi là cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục) để đánh giá các cơ sở giáo dục, đào tạo hoặc đánh giá các chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn chất lượng giáo dục. Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục xác nhận mức độ cơ sở giáo dục đáp ứng mục tiêu đề ra trong từng giai đoạn nhất định, làm căn cứ để cơ sở giáo dục  đào tạo giải trình với các cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền và xã hội về thực trạng chất lượng giáo dục, được công khai, là căn cứ tham khảo cho người học lựa chọn cơ sở giáo dục, đào tạo và nhà sử dụng lao động tuyển chọn nhân lực từ cơ sở đào tạo. Những yêu cầu chung‎ về kiểm định chất lượng giáo dục đã được đưa vào Luật giáo dục (2005), Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật giáo dục (2009) và Luật Giáo dục đại học (2012). Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ban hành các bộ tiêu chuẩn đánh giá và các quy trình kiểm định chất lượng giáo dục các cấp học, các quy định về thành lập các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục và các tiêu chuẩn về kiểm định viên… Công tác kiểm định chất lượng giáo dục đang được triển khai trong cả nước. Tất cả các Sở Giáo dục và Đào tạo đều có Phòng Khảo thí và Quản lí chất lượng giáo dục. Trên 66% số cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên trong cả nước đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá; nhiều cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên đã được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục. Từ nay đến năm 2020, tiếp tục huy động tất cả các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên triển khai tự đánh giá, cải tiến chất lượng và đăng kí kiểm định chất lượng giáo dục theo chu kì 5 năm/lần. Đối với các cơ sở giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp, tiếp tục triển khai thực hiện Đề án "Xây dựng và Phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn 2011  2020" theo Quyết định số 4138/ QĐBGDĐT ngày 20/9/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo đó, đến hết năm 2015 sẽ thành lập 3 tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục (tổ chức kiểm định đầu tiên được thành lập theo quyết định số 3568/QĐBGDĐT ngày 05/9/2013), đến năm 2020 có 95% số cơ sở giáo dục đại học, trung cấp chuyên nghiệp và các chương trình đào tạo được kiểm định ít nhất một lần.

35. Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lí giáo dục có vai trò như thế nào trong việc thực hiện Nghị quyết?

Các giải pháp cơ bản để xây dựng và phát triển đội ngũ này trong thời gian tới? Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI khẳng định: Cùng với đổi mới cơ chế quản lí, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục là khâu then chốt của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Nghị quyết Trung ương 8 (khoá XI) yêu cầu: "Nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục". Để xây dựng, phát triển đội ngũ này, cần:  Xây dựng quy hoạch và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế  xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế.  Khắc phục tình trạng phân tán các cơ sở đào tạo nhà giáo; tập trung xây dựng một số trường sư phạm, trường sư phạm kĩ thuật trọng điểm; điều phối hệ thống trường sư phạm theo mục tiêu, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục trên phạm vi cả nước.  Có cơ chế tuyển sinh và cử tuyển riêng để tuyển chọn được những người thực sự có phẩm chất, năng lực phù hợp vào ngành sư phạm.  Đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức nhà giáo và năng lực nghề nghiệp.  Thực hiện chuẩn hoá đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo. Tiến tới tất cả giáo viên tiểu học, trung học cơ sở phải có trình độ đại học trở lên; giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có trình độ đại học trở lên và có năng lực sư phạm, năng lực chuyên môn tương ứng với trình độ và ngành nghề đào tạo; giảng viên cao đẳng, đại học có trình độ từ thạc sĩ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm. Cán bộ quản lí giáo dục các cấp phải được đào tạo về nghiệp vụ quản lí. Có chế độ ưu đãi đối với nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục:  Việc tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục phải trên cơ sở đánh giá thực tế năng lực, đạo đức nghề nghiệp và hiệu quả công tác. Có chế độ ưu đãi và quy định hợp lí tuổi nghỉ hưu đối với nhà giáo có trình độ cao, đồng thời có cơ chế sàng lọc, miễn nhiệm, bố trí công việc khác hoặc kiên quyết đưa ra khỏi ngành đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, không đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.  Lương và các chính sách khác là một trong những yếu tố chính tạo động lực cống hiến và đổi mới giáo dục của đội ngũ nhà giáo. Nghị quyết Trung ương lần này tiếp tục khẳng định: "Lương của nhà giáo được ưu tiên xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp và có thêm phụ cấp tùy theo tính chất công việc, theo vùng".  Có chính sách hỗ trợ giảng viên trẻ về chỗ ở, học tập và nghiên cứu khoa học; khuyến khích đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Bảo đảm bình đẳng về tôn vinh và cơ hội đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ giữa nhà giáo trường công lập và trường ngoài công lập. Tạo điều kiện để người Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia quốc tế tham gia giảng dạy và nghiên cứu trong nước.

 36. Chính sách đầu tư về cơ sở vật chất và trang thiết bị đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong điều kiện hiện nay?

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo, chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong đầu tư, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, đúng mục đích phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế  xã hội của đất nước. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách để đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đầu tư cho giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, khuyến khích các loại hình giáo dục ngoài công lập. Lựa chọn các dự án và khuyến khích đầu tư theo các hình thức BOT, PPP... nhằm thu hút vốn ngoài ngân sách nhà nước. Có chính sách hỗ trợ để có mặt bằng xây dựng trường. Khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện có, chỉ đầu tư mới khi cần thiết và phù hợp với quy hoạch phát triển của hệ thống giáo dục. Ưu tiên thực hiện mục tiêu kiên cố hoá trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên, từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất kĩ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin. Đảm bảo đến 2020 đủ số phòng học trên lớp và số học sinh mỗi lớp không vượt quá quy định của từng cấp học. Trước mắt, ưu tiên đủ số phòng học, nhà công vụ cho giáo viên, ưu tiên đầu tư cho phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, ưu tiên cho vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và vùng đặc biệt khó khăn; đảm bảo đến năm 2015 đủ số phòng học trên lớp theo quy định. Ưu tiên đầu tư ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong công tác quản lí, đánh giá, đổi mới phương pháp dạy và học, chia sẻ dữ liệu dùng chung nhằm tối ưu hoá nguồn lực đầu tư. Đối với giáo dục mầm non và phổ thông:  Nhà nước ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phát triển các cơ sở giáo dục công lập và có cơ chế hỗ trợ để đảm bảo từng bước hoàn thành mục tiêu phổ cập theo quy định.  Khuyến khích phát triển các loại hình trường ngoài công lập đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao ở khu vực đô thị và các vùng có điều kiện kinh tế phát triển.  Trên cơ sở quy hoạch mạng lưới trường, lớp học và tận dụng triệt để, có hiệu quả cơ sở vật chất hiện có, huy động toàn bộ nguồn lực của xã hội để phấn đấu đến 2015 đảm bảo đủ số phòng học cho phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi và đủ số phòng học cho việc huy động trẻ từ 4  5 tuổi ra lớp đạt tỉ lệ 70%, trẻ dưới 3 tuổi đạt 25%. Hoàn thiện hệ thống các trường dân tộc nội trú trong cả nước để đảm bảo tỉ lệ học sinh dân tộc được học trong các trường nội trú đạt 7  12% số học sinh dân tộc. Đảm bảo đủ chỗ ở cho học sinh các trường bán trú. Hoàn thiện hệ thống trường chuyên. Củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Đảm bảo đủ trường lớp để tiếp nhận 80% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở học trung học phổ thông, học nghề hoặc trung cấp chuyên nghiệp. Phấn đấu đến 2020, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông đủ các phòng chức năng, phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm, phòng học tin học, thư viện... và các khu chức năng khác phục vụ các hoạt động giáo dục.  Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm thiết bị cho các phòng thực hành với mục tiêu nâng cao kĩ năng thực hành cho học sinh, đầu tư chất lượng và đồng bộ. Tăng cường đầu tư xây dựng các phần mềm nghe, nhìn, thí nghiệm kĩ thuật số, xây dựng bài giảng điện tử trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin. Từng bước đầu tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin cấp trường/địa phương và cấp toàn ngành. Xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung. Đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp:  Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất một số trường đại học, ngành đào tạo trọng điểm, trường sư phạm.  Tập trung đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin của các trường đại học, nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và học tập, lấy trọng tâm là thư viện, tạo lập hệ thống thư viện dùng chung, chia sẻ dữ liệu trong hệ thống. Xây dựng một số thư viện trung tâm thuộc các khối ngành.  Xây dựng một số phòng thí nghiệm trọng điểm ở một số trường đại học để hình thành những trung tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống các xưởng, trạm thực hành nhằm nâng cao tay nghề, kĩ năng nghề nghiệp cho sinh viên.  Đẩy mạnh xã hội hoá đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động tham gia hỗ trợ hoạt động đào tạo, lựa chọn các dự án đầu tư để khuyến khích đầu tư theo hình thức PPP (đầu tư theo hình thức hợp tác công - tư).

Tác giả bài viết: Bài viết sưu tầm từ http://www.moet.gov.vn/

Nguồn tin: www.moet.gov.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thành viên

Thư viện ảnh

Đông Vui Cô Ơi Tập thể thầy cô giáo trường THCS Liêng Trang Ngày vui khai trường Học sinh trong ngày hội khánh thành trường Tặng quà cho học sinh nhân ngày khai trường

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 91


Hôm nayHôm nay : 755

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 26223

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1520923

webstile của nguyễn Đức Tính
Thi giao thông thông minh
Phòng giáo dục đam rông
Sở Giáo dục Lâm Đồng

Lịch