06:13 EST Thứ tư, 13/12/2017
webstile của nguyễn Đức Tính
Thi giao thông thông minh
Phòng giáo dục đam rông
Sở Giáo dục Lâm Đồng

Liên kết website

Trang nhất » Tin tức » Hoạt động nhà trường

Mục tiêu tổng quát đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có những nội dung nào mới so với mục tiêu lâu nay đã xác định

Thứ năm - 27/03/2014 03:38
Hình minh họa

Hình minh họa

9. Mục tiêu tổng quát đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có những nội dung nào mới so với mục tiêu lâu nay đã xác định?

 Về mục tiêu đào tạo con người: Vừa đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; vừa đảm bảo phát huy tốt nhất tiềm năng riêng của mỗi cá nhân.  Về mục tiêu hệ thống: Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lí tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lí, gắn với xây dựng xã hội học tập; chuẩn hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Tạo chuyển biến căn bản mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả, giáo dục đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.

10. Thế nào là phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học?

Trước đây mục tiêu giáo dục toàn diện thường được hiểu đơn giản là: Học sinh phải học đầy đủ tất cả các môn học thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, nghệ thuật, thể dục thể thao… Không những thế, việc thực hiện mục tiêu giáo dục cũng nghiêng về truyền thụ kiến thức càng nhiều càng tốt; chú trọng dạy chữ hơn dạy người, chú trọng truyền bá kiến thức hơn đào tạo, bồi dưỡng năng lực của người học; ít yêu cầu người học vận dụng kiến thức vào thực tế… Tình hình này đã dẫn đến hiện tượng "quá tải", vừa thừa, vừa thiếu đối với người học và đối với mục tiêu giáo dục. Mục tiêu giáo dục theo tinh thần đổi mới là: phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Toàn diện ở đây được hiểu là chú trọng phát triển cả phẩm chất và năng lực con người, cả dạy chữ, dạy người, dạy nghề. Giáo dục và đào tạo phải tạo ra những con người có phẩm chất, năng lực cần thiết như trung thực, nhân văn, tự do sáng tạo, có hoài bão và lí tưởng phục vụ Tổ quốc, cộng đồng; đồng thời phải phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, làm chủ bản thân, làm chủ đất nước và làm chủ xã hội; có hiểu biết và kĩ năng cơ bản để sống tốt và làm việc hiệu quả… như Bác Hồ từng mong muốn: "một nền giáo dục sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em".

11. Thế nào là thực học, thực nghiệp?

Thực học, thực nghiệp là người dạy và người học hiểu đúng mục đích của việc dạy và học; dạy và học thực chất; kết quả thi, kiểm tra phản ánh đúng, thực chất chất lượng giáo dục; người học là chủ thể trung tâm của quá trình giáo dục, sau khi tốt nghiệp có đủ năng lực và phẩm chất cần thiết để sống và làm việc. Thực học, thực nghiệp đối lập với hư học, hư danh, bệnh thành tích, với việc chạy điểm, chạy bằng cấp, bằng thật học giả mà dư luận xã hội bức xúc, lên án.

12. Thế nào là hệ thống giáo dục mở?

Hệ thống giáo dục mở là hệ thống giáo dục linh hoạt, liên thông giữa các yếu tố (nội dung, phương pháp, phương thức, thời gian, không gian, chủ thể giáo dục…) của hệ thống và liên thông với môi trường bên ngoài hệ thống, bảo đảm tính sáng tạo cho việc xây dựng, tổ chức các nội dung, hình thức giáo dục; tạo cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người; tận dụng các nguồn lực cho giáo dục và bảo đảm tính hiệu quả, phát triển bền vững của hệ thống. Nói cách khác, hệ thống giáo dục mở là hệ thống giáo dục tạo ra cơ hội phát triển chương trình giáo dục, tạo cơ hội học tập phù hợp cho mọi đối tượng có nhu cầu, không phân biệt lứa tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp, địa vị xã hội, giới tính trong mọi thời gian khác nhau và không gian khác nhau. Nhờ đó, việc học tập của con người có điều kiện để thực hiện không ngừng suốt đời.

13. Thế nào là học tập suốt đời, xã hội học tập? Hiện nay, khái niệm "học tập suốt đời" ngày càng được nhắc đến thường xuyên hơn và có mặt trong hầu hết các chiến lược, chính sách quốc gia về giáo dục của mỗi đất nước. Theo UNESCO, "học tập suốt đời" là quá trình học tập diễn ra trong suốt cả cuộc đời, dựa trên bốn trụ cột: học để biết, học để làm việc, học để cùng nhau chung sống và học để làm người; thông qua các phương thức giáo dục chính quy, giáo dục thường xuyên; đặc biệt coi trọng tự học. Xã hội học tập là một xã hội trong đó tất cả các tổ chức trong xã hội đều tham gia vào quá trình giáo dục, không riêng trường học. Ví dụ, một nhà máy, trách nhiệm chủ yếu là sản xuất hàng hoá, nhưng cũng có thể và cần phải tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kĩ năng nghề nghiệp cho công nhân và cũng có thể giáo dục cho công chúng về quá trình sản xuất, về sử dụng sản phẩm, về bảo vệ môi trường... và những đóng góp của họ cho xã hội. Nhà máy phải tham gia cùng nhà trường xây dựng và cải tiến chương trình giáo dục, là nơi cho học sinh, sinh viên thực hành, thực tập... Một khía cạnh khác của xã hội học tập là toàn thể công dân đều phải học tập và triệt để tận dụng các cơ hội do xã hội học tập cung cấp. Học tập suốt đời và xã hội học tập là hai khái niệm có liên quan, gắn bó chặt chẽ với nhau. Xã hội học tập là nơi mà mọi cá nhân đều theo đuổi việc học thường xuyên, học suốt đời, mọi tổ chức đều trở thành những tổ chức học tập, mọi thành phần xã hội đều tham gia và đóng góp vào việc thúc đẩy học tập và phát triển giáo dục. Học tập suốt đời và xã hội học tập là một quan điểm tổng thể, toàn diện về sự phát triển, thay đổi, hợp tác và tham gia của mỗi một cộng đồng, mỗi một quốc gia trong thế giới có sự phát triển vũ bão của khoa học  công nghệ và bùng nổ thông tin, hội nhập và toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng.

 14. Quan điểm chỉ đạo và những nhiệm vụ, giải pháp chính trong Nghị quyết Trung ương 8 (khoá XI) đối với giáo dục ngoài công lập?

 Ngay từ Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII), Đảng ta đã xác định: "Đa dạng hoá các loại hình giáo dục  đào tạo"; "Phát triển những trường bán công, dân lập ở những nơi có điều kiện, từng bước mở các trường tư thục ở một số bậc học như: mầm non, phổ thông trung học (cấp III), trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, đại học". Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khoá XI) tiếp tục thể hiện và phát triển thêm đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với giáo dục ngoài công lập. Về quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết xác định: "Phát triển hài hoà, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và giáo dục ngoài công lập". Trong các nhiệm vụ, giải pháp, có nhiều điểm liên quan hoặc trực tiếp nói về giáo dục ngoài công lập. Cụ thể như sau:  Khuyến khích xã hội đầu tư phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo. Tăng tỉ lệ trường ngoài công lập đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Hướng tới có loại hình cơ sở giáo dục do cộng đồng đầu tư.  Đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, khuyến khích phát triển các loại hình trường ngoài công lập đáp ứng yêu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao ở khu vực đô thị.  Đa dạng hoá các phương thức đào tạo. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng năng lực, kĩ năng nghề tại cơ sở sản xuất, kinh doanh. Có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử dụng lao động tham gia xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lực người học.  Đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, thực hiện cơ chế đặt hàng trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế  kĩ thuật, tiêu chuẩn chất lượng của một số loại hình dịch vụ đào tạo (không phân biệt loại hình cơ sở đào tạo), bảo đảm chi trả tương ứng chất lượng, phù hợp với ngành nghề và trình độ đào tạo. Minh bạch hoá các hoạt động liên danh, liên kết đào tạo, sử dụng nguồn lực công; bảo đảm sự hài hoà giữa các lợi ích với tích luỹ tái đầu tư.  Đẩy mạnh xã hội hoá, trước hết là đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; có chính sách khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục và đào tạo trên cơ sở bảo đảm quyền lợi của người học, người sử dụng lao động và cơ sở giáo dục, đào tạo. Đối với các ngành đào tạo có khả năng xã hội hoá cao, ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và khuyến khích tài năng. Tiến tới bình đẳng về quyền được hỗ trợ của Nhà nước đối với người học ở trường công lập và trường ngoài công lập. Bảo đảm bình đẳng giữa nhà giáo trường công lập và nhà giáo trường ngoài công lập về tôn vinh và cơ hội đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.  Khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động tham gia hỗ trợ hoạt động đào tạo. Xây dựng cơ chế, chính sách tài chính phù hợp đối với các loại hình trường. Có cơ chế ưu đãi tín dụng cho các cơ sở giáo dục, đào tạo.  Có chính sách hỗ trợ để có mặt bằng xây dựng trường

. 15. Quan điểm chỉ đạo và những nhiệm vụ, giải pháp chính trong Nghị quyết Trung ương 8 (khoá XI) về phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn và hỗ trợ các đối tượng chính sách xã hội?

Trong những năm qua, nhiều chính sách về giáo dục và đào tạo đối với vùng khó khăn, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống đã được ban hành, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực cho các địa phương nhằm phát triển kinh tế  xã hội, xoá đói giảm nghèo, góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng và giữ vững chủ quyền quốc gia. Các chính sách về giáo dục tập trung vào việc phát triển mạng lưới trường, lớp đến các xã, thôn, bản, tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị; các chế độ, chính sách hỗ trợ cho cán bộ, giáo viên công tác ở vùng có điều kiện kinh tế  xã hội đặc biệt khó khăn, các trường chuyên biệt vùng dân tộc thiểu số và các chính sách cho người học là người dân tộc thiểu số, người có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng chính sách, đảm bảo cơ hội học tập cho mọi người nhằm tạo công bằng xã hội trong giáo dục. Về quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết Trung ương 8 (khoá XI) xác định: "Phát triển hài hoà, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hoá, xã hội hoá giáo dục và đào tạo". Trong mục tiêu, Nghị quyết khẳng định bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách được học tập nâng cao kiến thức, trình độ, kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống; tạo điều kiện để người lao động chuyển đổi nghề; bảo đảm xoá mù chữ bền vững. Để thực hiện có hiệu quả các quan điểm chỉ đạo của Nghị Quyết về phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số, giáo dục vùng khó khăn và các đối tượng diện chính sách, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới được xác định cụ thể như sau:  Các bộ, ngành, địa phương xây dựng quy hoạch dài hạn phát triển nguồn nhân lực, dự báo nhu cầu về số lượng, chất lượng nhân lực, cơ cấu ngành nghề, trình độ. Trên cơ sở đó, đặt hàng và phối hợp với các cơ sở giáo dục, đào tạo tổ chức thực hiện.  Chương trình giáo dục tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hoá, truyền thống và đạo lí dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại.  Biên soạn sách giáo khoa, tài liệu hỗ trợ dạy và học phù hợp với từng đối tượng học, chú ý đến học sinh dân tộc thiểu số và học sinh khuyết tật.  Tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ đối với các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số. Đối với các ngành đào tạo có khả năng xã hội hoá cao, ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và khuyến khích tài năng.  Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hoá trường, lớp học và xây dựng nhà công vụ cho giáo viên.

16. Vì sao lại giữ ổn định hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm như hiện nay, trong khi có ý kiến đề nghị chỉ nên 11 năm?

Cơ cấu hệ thống giáo dục phải góp phần đảm bảo quyền lợi học tập của người dân. Chất lượng giáo dục của mỗi cấp học phải đảm bảo đạt chuẩn quốc gia và tương ứng với chất lượng quốc tế, phát huy hiệu quả đầu tư giáo dục. Trong quá trình góp ý cho Đề án đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, có ý kiến đề nghị số năm học của giáo dục phổ thông (GDPT) là 11 năm. Căn cứ của đề xuất này chủ yếu là: (1) Số năm học giảm đi sẽ tiết kiệm được thời gian ngồi trên ghế nhà trường và giảm được chi phí của Nhà nước và gia đình, đồng thời tăng thêm được lực lượng lao động cho gia đình và xã hội; (2) GDPT Việt Nam đã từng có giai đoạn 11 năm; trên thế giới cũng có những nước thực hiện GDPT 11 năm và (3) Hiện nay, học sinh Việt Nam phát triển nhanh hơn về thể chất và tâm  sinh lí… Tuy nhiên, sau nhiều hội thảo và nghiên cứu, đa số ý kiến vẫn đề nghị ổn định hệ thống giáo dục như hiện nay, tức 12 năm GDPT. Lí do chính là: (1) Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, mô hình giáo dục 12 năm tồn tại lâu nhất và ổn định nhất (tính từ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 đến nay, mô hình 12 năm đã tồn tại 32 năm trong phạm vi cả nước); (2) Mô hình GDPT 12 năm được thực hiện ở đa số nước trên thế giới. Theo thống kê của UNESCO, có 163/206 nước, GDPT từ 12 năm trở lên (12  14 năm), chiếm tỉ lệ 79,1%; trong đó, hệ thống GDPT 12 năm là phổ biến nhất: 117 nước, chiếm tỉ lệ 56,8%. Nhiều nước phát triển như Anh, Ý, Na uy… có hệ thống GDPT 13 năm; (3) Số giờ dạy học trung bình của 21 nước trong khối OECD(1) là 8.984 giờ; cao nhất là 12.893 giờ (Hoa Kì) và thấp nhất là 6.128 giờ (Hy Lạp). GDPT Việt Nam 12 năm như phần lớn các nước trong khối OECD, nhưng do điều kiện khó khăn khách quan, đại bộ phận trường phổ thông ở nước ta chỉ dạy học 1 buổi/ngày nên tổng số giờ học của học sinh Việt Nam chỉ là 7.924 giờ, ít hơn 16/21 nước trong khối OECD; (4) Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực học sinh là xu thế quốc tế đã và đang được nhiều nước áp dụng. Định hướng này đòi hỏi phải gia tăng thời lượng cho việc tổ chức các hoạt động học tập, đặc biệt là hoạt động thực hành và vận dụng kiến thức.

17. Tại sao hệ thống giáo dục phải đảm bảo sự phân luồng, liên thông hợp lí?

Quy luật phát triển của giáo dục nói chung là càng lên bậc học cao, số lượng người học càng giảm. Không có nước nào, kể cả những nước có điều kiện nhất, toàn bộ số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông, chuyển tất cả lên học cao đẳng, đại học. Học sinh có những năng lực, sở trường, sở thích khác nhau. Xã hội, thị trường lao động cũng đòi hỏi nhân lực các trình độ khác nhau, không nhất thiết và không cần người lao động nào cũng phải tốt nghiệp đại học, cao đẳng. Vì thế, cần phân luồng ngay từ những bậc học dưới (thường là sau trung học cơ sở và nhất là sau trung học phổ thông). Nhìn chung, sự phân luồng được thực hiện theo hai hướng chính: (1) hệ thống trường dạy nghề, trường trung cấp chuyên nghiệp nhằm đào tạo lực lượng lao động trực tiếp, có tay nghề kĩ thuật; (2) hệ thống các trường cao đẳng, đại học để học sinh học tiếp lên cao nhằm đào tạo đội ngũ trí thức, nguồn nhân lực trình độ cao và phát triển nhân tài. Phân luồng phù hợp sẽ tạo ra sự cân đối giữa các lực lượng lao động trong xã hội. Bên cạnh việc thực hiện phân luồng một cách phù hợp, hệ thống giáo dục và đào tạo cần phải tạo được sự liên thông giữa các bậc học, các trình độ đào tạo, hệ thống chứng chỉ, bằng cấp… với mục đích tạo mọi điều kiện cho việc học tập được chuyển đổi một cách thuận tiện, linh hoạt; giúp mọi người dễ dàng tiếp tục học tập bằng nhiều hình thức khác nhau, chuyển đổi nghề nghiệp khi cần; động viên và đề cao tinh thần học suốt đời. Làm tốt công tác liên thông sẽ có tác động tích cực trở lại đối với phân luồng; giúp cho việc phân luồng dễ dàng và thuận lợi hơn.

18. Mục tiêu cụ thể đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục mầm non? Những nội dung nào là mới so với mục tiêu lâu nay đã xác định?

Mục tiêu cụ thể đổi mới căn bản giáo dục mầm non là: Giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mĩ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp 1. Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và thực hiện miễn học phí trước năm 2020 cho đối tượng này. Từng bước chuẩn hoá hệ thống các trường mầm non. Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng, phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục. Những điểm mới trong mục tiêu giáo dục mầm non là:  Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo.  Thực hiện việc miễn học phí trước năm 2020 cho trẻ 5 tuổi.  Từng bước chuẩn hoá trường mầm non và phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục.

19. Giáo dục bắt buộc là gì?

Giáo dục bắt buộc là quy định, yêu cầu của Nhà nước về chương trình giáo dục tối thiểu đối với công dân. Nhà nước miễn học phí và bảo đảm những điều kiện cần thiết nhất cho mỗi người dân được học tập chương trình giáo dục bắt buộc. Người học có nghĩa vụ và trách nhiệm học tập theo quy định. Trên thế giới hiện nay, số năm giáo dục bắt buộc thường là 9 năm (từ lớp 1 đến lớp 9), có nước ít hơn 9 năm, nhưng có nước 10, 11 năm hoặc nhiều hơn.

20. Mục tiêu cụ thể đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông?

Những nội dung nào là mới so với mục tiêu lâu nay đã xác định? Mục tiêu cụ thể là:  Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.  Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời.  Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015. Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng. Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020.  Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương. Mục tiêu trên so với mục tiêu lâu nay có những điểm mới. Trước hết là việc nhấn mạnh tập trung hình thành "năng lực công dân; năng lực thực hành và vận dụng kiến thức vào thực tiễn". Phát triển năng lực là một trong những yêu cầu quan trọng, thể hiện rõ nhất việc đổi mới mục tiêu giáo dục lần này. Năng lực được hiểu là sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (kiến thức, kĩ năng, thái độ, động cơ, hứng thú…) nhằm thực hiện công việc có hiệu quả. Quan niệm này chi phối toàn bộ các yếu tố của quá trình giáo dục, từ nội dung, phương pháp đến đánh giá kết quả học tập. Mục tiêu phát triển năng lực nhằm khắc phục tình trạng quá chú trọng vào trang bị kiến thức hàn lâm, kinh viện; người học biết nhiều lí thuyết nhưng thực hành, vận dụng kém… Thứ hai, mục tiêu "chú trọng ngoại ngữ (trước hết là tiếng Anh), tin học" cũng là nội dung mới nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nền kinh tế tri thức. Ngoài hai nội dung vừa nêu, mục tiêu học sinh học hết trung học cơ sở phải có tri thức phổ thông nền tảng, "giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau 2020", có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương cũng là nội dung mới.

 

Tác giả bài viết: Bài viết sưu tầm từ http://www.moet.gov.vn/

Nguồn tin: www.moet.gov.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thành viên

Thư viện ảnh

Đông Vui Cô Ơi Tập thể thầy cô giáo trường THCS Liêng Trang Ngày vui khai trường Học sinh trong ngày hội khánh thành trường Tặng quà cho học sinh nhân ngày khai trường

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 22

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 21


Hôm nayHôm nay : 535

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 14463

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1593696

webstile của nguyễn Đức Tính
Thi giao thông thông minh
Phòng giáo dục đam rông
Sở Giáo dục Lâm Đồng

Lịch